Suốt tuần qua, giới đầu tư kỳ vọng nhiều vào thông tin hạ trần lãi suất (QĐ 2712, 2173 và 2174 QĐ/NHNN). Theo đó trần lãi suất huy động đối với tiền gửi bằng Việt Nam Đồng kỳ hạn 6 tháng được điều chỉnh xuống mức 5.5%/năm (giảm 0.5%) và 0.75%/năm đối với tiền gửi cá nhân bằng Đô la Mỹ (giàm 0.25% so với trước đây. Trần lãi suất cho vay hạ từ 7%/năm xuống còn 6%/năm.
Nhiều nhà đầu tư cho rằng việc này là tất yếu cho một dòng tiền mới chảy ra nền kinh tế. Lãi suất giảm, dòng tiền thông minh sẽ tự động tìm đến những kênh đầu tư hiệu quả hơn, mà chứng khoán là một trong những kênh đầu tư hiệu quả nhất hiện nay. Lãi suất giảm cũng hàm ý rằng, ngân hàng đang thừa vốn và không còn nhu cầu huy động vốn nữa, dòng tiền dư thừa này sớm muộn sẽ được đẩy ra nền kinh tế? Điều này chỉ đúng một phần.
Nếu theo dõi câu chuyện lãi suất suốt giai đoạn 2006 - nay, sẽ thấy lãi suất và chứng khoán luôn đi ngược nhau. Tại đỉnh cao của thị trường chứng khoán (2006 - 2007) lãi suất huy động vào khoảng 9 - 10%/năm. Con số này so với hiện tại là cao, nhưng so với mức tăng trưởng nền kinh tế giai đoạn đó được cho là thấp. Thời kỳ bùng nổ của lãi suất huy động với đỉnh cao ghi nhận vượt 14%/năm, lãi suất liên ngân hàng lên đến mức kỷ lục 25 - 27%/năm là vào năm 2008 - cũng là năm chứng khoán rơi thê thảm nhất trong lịch sử. Các động thái can thiệp của NHNN giai đoạn này đã đưa trần lãi suất quay lại mức 9%/năm từ năm 2009. Giai đoạn này, thị trường chứng khoán có một nhịp hồi đáng kể trước khi tiếp tục giảm suốt giai đoạn 2010 - 2012. Giai đoạn này lãi suất huy động duy trì phổ biến trên 11%/năm, có giai đoạn trần lãi suất ở mức 14%/năm (2012) sau đó nhanh chóng bị điều chỉnh về mức 9%/năm.
Từ cuối 2013 - đầu 2014, nhiều chuyên gia tài chính công bố các công trình nghiên cứu, cho rằng mặt bằng lãi suất đã về ngang giai đoạn 2005 - 2006. Vậy tại sao chứng khoán không "leo" lên được một đỉnh cao tương tự giai đoạn đó. Bỏ qua các vấn đề về tính sơ khai và manh mún của thị trường. Lãi suất huy động giai đoạn 2006 - 2007 phổ biến quanh mức 9.48%/năm. Nhưng tăng trưởng tín dụng giai đoạn đó trung bình vào khoảng 33%, trong khi tăng trưởng tín dụng 9TH2014 dừng lại ở con số 7.24%. Chưa kể một vài giai đoạn trong năm, tăng trưởng tín dụng âm. Mặc dù Ngân Hàng thừa vốn, nhưng họ cũng loay hoay trong việc đẩy vốn ra ngoài. Nôm na, dòng tiền đang bị "mắc kẹt".
Bằng chứng rõ nét hơn cho việc thừa vốn của hệ thống ngân hàng: lãi suất tái chiết khấu đã xuống mức thấp nhất kể từ 2005 (chỉ còn 4.5%/năm). Lãi suất tái chiết khấu được hiểu là lãi suất mà NHNN đánh vào các khoản cho vay NHTM để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn của các ngân hàng này. Việc giảm lãi suất tái chiết khấu hàm ý rằng, NHNN đang khuyến khích các NHTM đẩy tiền ra nền kinh tế nhiều hơn. Việc bù các khoản dự trữ bắt buộc sẽ được đáp ứng bằng một dòng vốn vay rẻ hơn. Tuy nhiên, điều này thực sự không như mong đợi. Tăng trưởng tín dụng vẫn rất thấp. Thực tế, theo cơ cấu đồng tiền, tăng trưởng tín dụng Việt Nam Đồng chỉ ở mức 5%. Tín dụng tăng trưởng tập trung ở ngoại tệ (khoảng 18 - 20%). Chúng ta đang đứng trong một nền kinh tế phục hồi hậu suy thoái, nhưng dòng tiền bị ứ đọng. Cách tốt nhất để giải quyết vấn đề này là kích cầu, làm tăng tổng cầu! Nhưng...
Nhìn rộng một chút sang các vấn đề vĩ mô, bỏ qua các hàm cung - cầu và các học thuyết kinh tế rườm rà. Điều dễ nhận thấy nhất, nền kinh tế đang bị dư cầu. Bằng chứng là sản lượng chung của nền kinh tế đang hứng chịu mức tồn kho cao. Chỉ số CPI thực tế đã bị bóp méo bởi khu vực đầu tư công, khi mà chi tiêu của chính phủ chiếm tỷ trọng cao và ảnh hưởng lớn đến toàn rổ hàng hóa. Kích cầu nền kinh tế qua chi tiêu công là một cách, nhưng tăng chi tiêu công ở một quốc gia nhiều tham nhũng sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Rõ ràng nợ công đã lên đến mức báo động! Và chính phủ cũng đang tìm cách để "đảo nợ".
Quay lại câu chuyện về lãi suất. Có thêm một minh chứng cho việc dòng vốn trong các ngân hàng rất thừa và bị ứ đọng đến mức các ngân hàng sẵn sàng sử dụng vốn huy động từ khu vực dân cư của mình cho đầu tư vào trái phiếu chính phủ để giải quyết đầu ra. Với mức trần lãi suất hiện tại 5.5%/năm và lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm đã giảm xuống mức thấp kỷ lục (chỉ còn khoảng 5.08%) thì rõ ràng các ngân hàng đang chịu lỗ gần 0.5% cho mỗi đồng đầu tư của mình? Có thể dễ dàng kiểm tra tính chính xác của thông tin tại báo cáo tài chính của các ngân hàng. Hạ lãi suất nhưng dòng vốn giá rẻ vẫn không đến được với doanh nghiệp để kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Tóm lại, hạ trần lãi suất là tin tốt đối với chứng khoán. Nhưng với tình trạng ứ đọng vốn và bế tắc đầu ra như giai đoạn hiện tại thì tăng trưởng tín dụng ngân hàng tiếp tục mờ mịt. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trong thời kỳ kinh tế suy giảm thì cầu tín dụng hầu như không nhạy cảm với lãi suất. Vẫn biết, các chính sách tiền tệ luôn có độ trễ, cho nên phải mất một thời gian nữa thị trường chứng khoán mới hấp thụ được tác động của những chính sách này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét